Việc xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự
19/03/2020

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;

b) Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

c) Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp mà cán bộ, nhân viên y tế có được đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này;

c) Buộc thực hiện lại việc khám sức khỏe đối với người được khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều này.

Vậy thì trong trường hợp này, các chế tài về hình sự được áp dụng như thế nào?

Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Lôi kéo người khác phạm tội.”                                       

Trong trường hợp này, cơ quan, người có thẩm quyền thường lúng túng, không thống nhất trong cách xử lý. Hiện có 02 cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hành vi vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì phải bị xem xét, xử lý theo quy định tại Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu trên.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Hành vi vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính thì không bị xem xét, xử lý theo quy định tại Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà chỉ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính với tình tiết tăng nặng là tái phạm.

Theo quan điểm của tác giả thì tán thành theo quan điểm thứ hai, vì các lý do sau đây:

Một là, đối chiếu với quy định mang tính liệt kê theo quy định tại Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu trên thì về mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ quy định 03 hành vi độc lập (không đăng ký, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện); hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe chưa được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 và được hiểu là độc lập với hành vi “không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự” như quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật hình sự.

Hai là, Khoản 2 Điều 3 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định:

“Đăng ký nghĩa vụ quân sự là việc lập hồ sơ về nghĩa vụ quân sự của công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

Khoản 8 Điều 3 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định:

“Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu.”

Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự thì việc sau khi công dân đăng ký, Ban Chỉ huy quân sự cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân; Chương 2 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, việc gọi công dân khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được đề cập như một bước thủ tục, quy trình của sau việc đăng ký nghĩa vụ quân sự. Như vậy, việc gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được thực hiện sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự; là bước trung gian, mang tính độc lập giữa đăng ký nghĩa vụ quân sự và gọi công dân nhập ngũ. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được xem là tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Ba là, Khoản 1 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về cơ sở của trách nhiệm hình sự  quy định:

“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Điều đó cũng có nghĩa là, chỉ được xử lý hình sự những hành vi đã được quy định trong Bộ luật hình sự.

Một là, cần sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ theo hướng nâng mức phạt tiền, tăng khoảng cách giữa các mức phạt đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khoẻ để bảo đảm tính răn đe.

Hai là, về xử lý hình sự đối với hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe có yếu tố tái phạm, cần sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 332 Bộ luật hình sự theo hướng liệt kê thêm hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe; đồng thời sửa đổi quy định tại Chương 2 Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19 tháng 2 năm 2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự.

Ba là, cần sớm có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Điều 332 Bộ luật hình sự, Điều 3 Luật nghĩa vụ quân sự về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm cơ sở cho việc xử lý được thống nhất, đúng pháp luật./.          


Số lượt đọc: 341 Về trang trước Về đầu trang
Các tin khác